Pages

Subscribe:

Thursday, 24 December 2015

Cô gái tháng Mười Hai

Chẳng biết có phải chào đời vào một ngày đông giá nên lòng em đa mang khi đất trời trở mình xáo động. Lại xôn xao khi nghe bản tình ca dịu dàng ngang phố và dư thừa cảm xúc suy tư cho người, hay tại em là cô gái tháng Mười Hai.

Là cô gái tháng Mười Hai nên đi qua những mùa đông một mình vẫn yêu thiết tha màu trời bàng bạc và cơn gió mùa se sắt. Em tròng trành hoang mang khi nắng mưa đổi thay bất chợt, thích cà phê và thức khuya bên trang sách để cô đơn im bặt đâu đó ở thế giới của riêng mình.

Là cô gái tháng Mười Hai, em trót mang nhiều đa cảm nên dễ rớt nước mắt vì những thê lương ở đời. Bận lòng với tất thảy bất toàn của thế gian, ví như một chuyện tình không có kết, một mảnh đời hay kiếp người bất hạnh luôn khiến em day dứt phân tâm.

Là cô gái tháng Mười Hai, em sợ những điều giả dối nhưng vốn cả tin nên đôi khi chịu phản trắc bởi vài ba sắp đặt. Em ghét khoe mẽ và kênh kiệu, với em, thành đạt hay hạnh phúc đâu cần đo lường đong đếm cho người ta thấy. Chỉ cần bản thân định lượng là đủ bởi suy cho cùng, hạnh phúc bao giờ cũng từ tâm mà ra.

Cô gái tháng Mười Hai khó để yêu nhưng nếu yêu sẽ rất chân thành. Em chung tình son sắc với tình cảm đã trao nên một khi đã yêu thì yêu lâu lắm. Thế nên em cần người ta hệt vậy, thương mến đậm sâu và chịu khó dãi dầu cùng em qua nắng mưa dâu bể cuộc đời.

Cô gái tháng Mười Hai luôn tạo cho mình vỏ bọc mạnh mẽ bên ngoài dẫu bên trong mềm nhũn và yếu đuối. Người ta ngỡ em sinh ra trong mùa buốt giá nên  lạnh lùng vô tâm mà chẳng hay đằng sau ấy là trái tim nồng ấm đơn giản. Lúc dỗi hờn ngúng nguẩy chỉ cần lặng lẽ ôm em thật chặt, vậy là tan rã những giận hờn vu vơ. Người ta thấy em vui cười đó nhưng đâu biết chỉ là nụ cười cơ học gượng gạo. Bao nỗi lòng đem giấu biệt nên chẳng ai thấy em buồn bã yếu đuối rồi đinh ninh rằng cô gái này mạnh mẽ quá đi thôi.

Là cô gái tháng Mười Hai, em khắt khe với chính mình và người khác Em không giỏi nói lời hoa mỹ nhưng sẵn sàng lặng lẽ hy sinh. Luôn ước ao được gửi gắm đời mình cho một chàng trai khiến em tin tưởng. Người ta không cần là hoàng tử trong cổ tích, chỉ cần hiện diện bên em đúng lúc và cho em cảm giác an toàn khi ở cạnh bên. Chẳng đợi chờ những điều vĩ đại chỉ cần người ấy làm điều bình thường với sự chân thành sẵn có trong tim.

Là cô gái tháng Mười Hai yêu tự do tự tại, em thích lang thang đến những vùng đất đẹp xinh. Nên chẳng có gì khó hiểu khi cô gái ấy một mình đặt chân đến vùng đất lạ, chẳng ai cạnh bên tỏ bày. Em trân quý phút giây vui vẻ một mình còn hơn cười vui tẻ nhạt bên đám đông vô vị. Mỗi cô gái tháng Mười Hai luôn có ốc đảo cho riêng mình là vì vậy.

Cũng cô gái tháng Mười Hai ấy, lúc hồn nhiên như trẻ con bởi chẳng giấu nổi vẻ thích thú khi xuýt xoa ăn kem vào ngày lạnh. Có lúc lại như bà già ưu tư chiêm nghiệm nên vẫn thường làm “quân sư” cho đám bạn có chồng.

Cô gái tháng Mười Hai vốn phức tạp và nhiều mâu thuẫn, khi mạnh mẽ đến đáng sợ lúc yếu lòng hệt ai kia. Song, dẫu thế nào em cũng là một cô gái như mọi cô gái trên đời, vẫn cần được chở che, được thương yêu và chiều chuộng tử tế. Nếu trót thương một cô gái như thế, chỉ cần cho người ta biết yêu thương trong anh là bất tận và sẵn sàng cùng cô ấy san sẻ bao nỗi niềm riêng mang.

Mẹ và vườn cải

Khi những đợt mưa dầm dề vừa dứt, hanh hao quay về trong từng cơn gió lạnh là lúc mẹ tôi gieo vào lòng đất nắm hạt cải để dành từ mùa trước. Vườn cải của mẹ có nhiều loại, cải ngọt, cải cay, cải bẹ xanh, cải bẹ trắng... mỗi loại góp vào một hương vị riêng.

Cứ đến mùa cải, tôi đều dậy thật sớm để thăm mảnh vườn của mẹ. Tôi đã không thể giấu được niềm vui khi trông thấy những chiếc lá mầm đầu tiên vừa nhô lên từ mặt đất. Đám rau non tơ ăn sương và khí trời, mỗi sáng mỗi chiều uống giọt nước mát lành từ bàn tay tảo tần của mẹ mà sinh sôi tươi tốt. Mẹ tôi nhổ tỉa từ trong đám cải dày những cây cải bé xíu trộn với giá và rau thơm thế là có món rau sống xanh ngon, chấm nước sốt cà chua làm cả nhà cứ xuýt xoa mãi.

Nhưng rồi lũ gà toan bới đất tìm giun thi thoảng vẫn lọt được vào vườn phá rau tan tác. Tôi nghĩ ra cách dựng mấy con bù nhìn rơm. Tôi lục lấy bộ quần áo cũ mặc cho bù nhìn, rồi lấy cái nón rách đội lên đầu nó, còn không quên cột vào tay nó cái gậy tua tủa ni lông. Mỗi lần gió thổi là bù nhìn rung lên lật bật, cái tay huơ huơ, lũ chim trời và gà phá rau khiếp phía chạy tán loạn. Vậy là tôi đã có thể yên tâm vì đã có bù nhìn canh giữ vườn rau.

Cải đến thì lớn nhanh như thổi, xanh tươi, mướt mát. Mới tờ mờ sáng, đất trời còn bảng lảng hơi sương, mẹ tôi đã ngồi ở góc vườn nhổ cải. Mẹ cột cải lại thành từng bó bằng chiếc lá mía già, nhặt lá gốc, rửa sơ rồi chất vào quang gánh. Gánh rau của mẹ nặng trĩu đôi vai, thấu được tới chợ vạt áo mẹ đã ướt đậm mồ hôi. Bán được mớ rau mẹ tôi lại mua về khi thì con cá lóc đen trũi, khi là chùm cá cháo trắng muốt. Tôi giúp mẹ hái nắm cải trong vườn nấu canh với cá. Dù là cá lóc hay cá cháo, món canh ấm nóng, ngọt ngào của mẹ đều phảng phất mùi thơm hương của gừng. Tôi thích thú xì xụp từng ngụm canh một cách ngon lành.

Rồi thì bao nhiêu món ăn từ rau cải được mẹ tôi chế biến ra để đãi cả nhà. Cải ngọt xào thịt, cải cúc xào trứng, cải bẹ trắng xào tỏi, cải bẹ xanh muối dưa chua... Vẫn là rau cải thôi nhưng món nào cũng tươi mới nên người ăn chẳng bao giờ biết chán.

Cứ thế hết lứa cải này mẹ tôi lại trồng lứa cải khác. Tôi không nhớ hết mỗi một mùa như thế có bao nhiêu lứa cải được mẹ trồng nên. Rồi một ngày ngồng cải vụt lên cao, cải trổ hoa vàng rực, gọi về không biết bao ong bướm. Thật kỳ lạ là dù phải trải qua những ngày đông lạnh lẽo, từng khóm hoa cải vẫn phô ra vẻ căng đầy và viên mãn. Dường như còn bao nhiêu tinh chất cây đều dồn vào trong ấy. Cải cuối mùa là thời khắc mà tôi chờ đợi nhất, để được cùng đám bạn mải mê, rong ruổi khắp vườn cải.

Biết bao trò chơi được tụi con nít bày ra, lúc thì kết hoa đeo tay, đeo cổ rồi đội đầu làm cô dâu chú rể. Lúc lại nấp vào những con bù nhìn chơi trò trốn tìm. Thích nhất là trò chơi bán đồ hàng, tiền là những chiếc lá dâm bụt xanh mướt, còn hàng là những bó hoa vàng rực rỡ. Chỉ thế thôi mà người bán kẻ mua cứ tíu ta tíu tít cười nói rộn vang trong vườn cải.

Sau mỗi buổi chơi tôi đều không quên mang hoa về tặng mẹ. Bởi tôi biết mẹ có món hoa cải xào tỏi ngon lắm. Những ngồng cải mập mạp, xanh ngon được mẹ tước xơ rồi rửa sạch đem xào tái với tỏi phi dầu, vị ngọt ngon đậm đà, có chút nhặng đắng của cải thấm gia vị, khiến tôi không thể nào quên được.

Tôi xa quê không biết đã bao mùa cải. Mỗi độ nghe gió lạnh thổi vào lòng se sắng, lại nhớ, lại thèm được trở về rong ruổi giữa vườn cải, ăn bữa cơm rau lành mẹ nấu!

Monday, 16 November 2015

Những mùa trăng hoài niệm

Trăng với ta là bạn, là chốn đợi chờ khắc khoải để nhắc nhớ bước chân trở về. Những mùa trăng thơ ấu đi qua, những mùa trăng xôn xao thời thiếu nữ dần trôi, vẫn còn đây vẹn nguyên kỷ niệm bao mùa trăng gửi lại.

Nơi góc sân nhỏ quê nhà trăng thức cùng ta trải suốt bốn mùa. Trăng thiết tha mùa xuân, vằng vặc mùa hạ, dịu dàng mùa thu và lặng lẽ đông sang. Trên chiếc chõng tre, ta gối đầu lên chân mẹ, nghe tiếng mẹ rầm rì kể chuyện ngày xưa.

Những hôm chưa xong việc nhà, mẹ còn phải băm bèo thái khoai cho lợn, hai anh em ngoan ngoãn ngồi chơi. Anh trai trông em bằng cách bày trò chơi tạo hình con vật cho em mải mê không đòi mẹ. Anh khum khum hai bàn tay xếp lại với nhau in lên vách tường làm chú chó sủa gâu gâu. Còn đây là đôi tai chú thỏ đang vểnh lên vì thèm cà rốt. Em thích thú trò chơi này lắm, tiếng cười giòn tan hoà lẫn ánh trăng. Trăng tự lúc nào đã trở thành bạn đồng hành thân thiết.

Hồi đó, cuộc sống chưa dư dả như bây giờ. Cả xóm chỉ có một chiếc ti vi đen trắng. Mỗi tối mọi người kéo nhau đến nhà bác khối trưởng để xem ti vi. Những hôm trăng sáng, xóm rộn ràng như trẩy hội. Ánh trăng theo bước chân người, rọi đường cho người qua đồng qua bãi. Trăng xua đi nỗi ngại ngần đường xa, trăng vừa thúc giục vừa kề bên mỗi bước đi của người. Thương lắm những khi xem phim, trẻ con nhanh ngủ, hai anh em xem say mê nhưng cũng ngủ quên từ bao giờ. Hết giờ, bố bế anh, mẹ bế em băng lối về nhà. Trăng vẫn lặng yên đi theo phía sau, cần mẫn đưa lối. Những ký ức ấy còn đọng mãi để mỗi lần nhớ về tim lại rung lên nhịp yêu thương, bâng khuâng.

Trăng lớn lên theo mỗi mùa tuổi để kỷ niệm tự nhiên cứ thế được vun đầy thêm. Ta khôn lớn theo dấu vết thời gian mà chẳng hiểu trăng còn mãi vẹn nguyên tuổi trẻ hay một ngày trăng cũng lặng lẽ già đi? Ta nhớ bóng trăng chờn vờn trên mặt nước sông quê êm đềm. Trăng cong cong lưỡi liềm, trăng ấp e thiếu nữ, trăng tròn đầy mộng mơ. Trăng và sông như ước hẹn, gắn bó bên nhau. Sông giữ trăng đứng lại và cũng chính sông đưa trăng xuôi dòng ra bát ngát mênh mông. Suối tóc người con gái quê hương nhuộm đầy ánh trăng huyền diệu ở đó đợi chờ một người trở lại. Cũng như sông kia thuỷ chung muôn đời kể chuyện ta nghe và vẫn thầm ngóng trông vầng trăng lãng du nhớ lời nguyện thề mà biết đường tìm về.

Trăng theo ta vào phố. Trăng ở đó mà dằng dặc xa xôi cách trở. Ta chợt vô tình giận dỗi vầng trăng hay trách những toà cao tầng sừng sững kia đã lỡ cách chia tình cảm, mong muốn hội ngộ của hai ta. Không phải trăng, mà chính ta đã có lúc vô tâm lãng quên trăng vẫn thầm lặng nhớ thương. Ta ước trăng cứ mãi tròn đầy vành vạnh như thế đợi một ngày thu dịu dàng ta bỏ phố phường chật hẹp trở về, nơi ta còn gửi lại những mùa trăng…

Ngoại và vườn ổi

Ngày còn nhỏ tôi đã thấy khu vườn nhà ngoại trồng rất nhiều ổi. Tháng giêng hai, ổi đơm nụ trổ hoa từng chùm, hàng trăm nụ xòe trắng đan cài vào nhau.

Mùa hoa nở gọi về không biết bao nhiêu những con ong bầu đen nhánh. Chúng bay vào bay ra cả ngày vù vù, rối rít hút mật hoa.

Mùa ổi chín, hương ổi thơm lẩn quất khắp vườn cây. Những con chim ở đâu bay tới, nấp mình trong tán lá dày và ăn ổi rất êm. Có lần tôi mừng thầm vì phát hiện được một trái ổi chín, nhưng khi chọc xuống thì buồn tiu nghỉu vì trái ổi chín chỉ còn lại một mảnh vỏ chim ăn dở. Tôi kêu lên: “Chim ơi, đừng ăn ổi của ngoại nữa!”. Lũ chim trời hốt hoảng vụt bay đi.


Một lần có mấy tên trộm ở đâu ghé thăm vườn ổi của ngoại. Nhanh như cắt, chúng leo qua hàng rào rồi trèo lên cây ổi xây trái nhất, nháo nhào, cuống quýt vặt ổi. Thấy vậy nhưng ngoại chỉ vờ quay đi rồi đằng hắng mấy tiếng. Tụi trộm biết là đã bị phát hiện vội vàng tụt xuống lặn mất tăm. Tôi hỏi:“Sao ngoại không kêu lên thật to!”. Ngoại nở một nụ cười nhân hậu, bảo rằng:“Kêu to, ngoại sợ mấy đứa hoảng quá nhảy xuống gãy chân, gãy tay thì tội”. Cũng từ dạo ấy, vườn ổi của ngoại được bình yên.

Ngày ấy, ngoại và tôi thường hái ổi vào chiều ngày hôm trước để chuẩn bị cho buổi chợ sớm mai. Ngoại già rồi, chân tay đã yếu, mắt đã kèm nhèm nên ngoại thường sai tôi hái ổi giúp ngoại. Tôi sợ cây sào dài sẽ làm ổi bầm dập thế nên lúc nào cũng muốn tự tay hái xuống những trái ổi chín mọng, may mà những cành ổi dẻo dai, bền bỉ.

Lần nào ghánh ổi của ngoại cũng oằn xuống hai đầu, bàn chân đi phải bám chặt vào đất, tới chợ thì vạt áo ngoại đã thấm ướt mồ hôi. Kẻ chợ vòng trong vòng ngoài mua ổi của ngoại nhưng ổi rẻ lắm, bán mà như cho. Tiền ổi bán được ngoại thêm đồng rau cháo qua ngày.

Mỗi lần ngoại đi chợ, tôi thường trèo lên ngọn cây cao nhất đuổi chim ăn ổi và ngóng ngoại đi chợ về. Tôi rất thích thú mỗi lần được ngoại thưởng cho những món quà hậu hĩnh, khi thì cây kẹo mút, lúc thì chú tò he có cái kèn thổi te te nghe vui tai lắm.

Cuối mùa ổi, tôi mải mê đi tìm trái sót, những trái ổi nho nhỏ nhưng ở toàn chỗ hiểm. Phải vất vả lắm tôi mới chạm được tay vào nó nhưng bù lại trái nào cũng ngọt và ngon một cách lạ lùng. Chắc có lẽ còn bao nhiêu tinh chất cây đều dồn vào trong ấy. Hái được trái nào tôi cũng để dành cho ngoại. Nhìn ngoại móm mém ăn ổi sao thấy thương!

Tôi không bao giờ quên được những buổi chiều mùa ổi, những chiếc lá khô co quắp, loạt xoạt chạy theo gió. Tôi và ngoại ra vườn lom khom quét lá, gom lại thành đống rồi châm lửa đốt, lửa than rực đỏ mỗi lần bị gió xối, mùi lá ổi thơm nồng. Cả vườn ổi bồng bềnh trong khói sương.

Cứ thế bao mùa cây thay lá, đơm hoa rồi kết quả, tuổi thơ tôi trôi qua bên ngoại và vườn ổi. Bỗng một ngày ngoại bỏ quên vườn ổi đi về cõi hư vô.

Ngày giỗ ngoại tôi lại trở về, đặt lên bàn thờ những trái ổi chín thơm. Trong khói hương bảng lảng, mắt nhắm lại và những mùa ổi hiện về...

Trung thu năm nao

Mua cho cô con gái nhỏ một chiếc đèn lồng phát nhạc để chuẩn bị cho trung thu sắp tới, lại chạnh lòng nhớ đến những năm nao…



Cứ cách rằm tháng Tám độ vài tuần là anh trai lại mua đủ những tấm giấy màu xanh, hồng, chuẩn bị sẵn nan tre để làm đèn ông sao. Giấy màu ngày ấy là những tấm to, được gập lại vuông vức. Giấy mỏng, nhám xịt, không phẳng phiu, bóng bẩy, sặc sỡ được như bây giờ.

Anh trai hì hục cắt, dán, dùng nhựa cây sung hoặc cơm nguội, sau này mới có thêm hồ dán (loại hồ màu trắng dẻo đựng trong những chiếc lọ nhỏ tròn màu đen xám, đặc quánh và phải dùng tay để phết), để kết nối những mảnh giấy đã được đo, cắt trước đó lại với nhau cho thành hình chiếc đèn năm cánh “huyền thoại”.

Đèn ông sao thủ công của anh trai luôn to và đẹp nhất cả xóm, nổi bật nhất trong cái hàng dài đoàn quân đi rước đèn ấy. Hai chị em thường được anh trao nhiệm vụ cầm đèn đi rước, nhớ những lúc lỡ lạc nhau, chỉ cần giơ cao chiếc đèn đầy khác biệt ấy lên, là sẽ tìm thấy nhau.

Tôi cũng nhớ cái sự háo hức đợi đến trung thu của những đứa trẻ trong làng, còn cách cả tháng mới đến ngày vui mà đã hội hè bàn bạc nhau từ trước. Đứa này đứa kia tranh nhau thao thao bất tuyệt kể về những kỷ niệm của mình, và hứa hẹn năm nay sẽ chơi trung thu hoành tráng ra sao. Tất cả đều chung cảm xúc đợi chờ, mong ngóng và cầu cho ngày rằm đừng mưa.

Có vẻ như ông trời nghe thấu lời nguyện cầu của lũ trẻ, nên trung thu chẳng mấy khi làm mưa. Trăng mười lăm tròn, sáng vằng vặc, soi rọi cả đoàn quân dài trùng điệp. Quê tôi khi ấy chẳng có múa lân, chỉ biết đến rước đèn và chia kẹo thôi, nhưng cũng đủ hạnh phúc lắm rồi. Thiếu nhi trong làng rước đèn ngày ấy có khi dài đến cả gần cây số, từng tốp cứ nối đuôi nhau đi vòng quanh những con đường quen thuộc, vừa đi vừa ríu ra ríu rít trò chuyện.

Lâu lâu có quản ca cất lên bài hát nào đấy, cả đội lại cùng nhau hát hò vang trời. Những bài hát cứ truyền miệng nhau, không phải cố học mà trẻ con đứa nào cũng thuộc làu làu, đợi dịp là ngân nga.
Đám trẻ con vừa thi nhau hát, vừa hãnh diện giơ chiếc đèn của mình lên cao, hòa vào dòng người. Đèn khi ấy phần nhiều vẫn là đèn năm cánh làm bằng giấy kiếng màu đỏ, xanh và nan tre, rồi có thêm đèn bằng ống bơ cũ, hay đèn lồng giấy được những đứa trẻ nhà khó khăn hơn tự chế. Miễn có đèn là được, tự làm hay được bố mẹ mua cho, đều thần kỳ như nhau. Vài ba đứa rước đèn chưa xong, không cẩn thận cầm nghiêng, khiến nến cắm phía trong lẹm vào giấy, đèn cháy, mếu máo đến là thương.

Đoàn rước đèn đi đến đâu cũng được người lớn đứng bên cạnh đường chờ đón, có đôi ba bậc phụ huynh vui chí còn nhập hội theo chung. Ước chừng đến giờ, cả đội quân lại kéo nhau về sân trước của Ủy ban xã để đón trận mưa kẹo từ đoàn thanh niên. Nhận kẹo từ xã, rồi lại chia nhau rồng rắn về nhà ông xóm trưởng. Cái thời đấy chưa có nhà văn hóa xóm, nên nhà bác xóm trưởng gần như trở thành tụ điểm họp hành của cả làng, là nơi chia kẹo cho các cháu nhân dịp trung thu. Mỗi đứa một nắm kẹo, có khi người lớn chia không đều, mấy đứa còn tị nạnh nhau vì thiên vị nọ kia.

Tuổi thơ khi đó, có kẹo là niềm vui thích tột cùng. Có được nắm kẹo trung thu trong tay, là hạnh phúc lây lan cả mấy ngày sau. Những cảm xúc bình dị như thế, ngày nay đã không còn nữa. Lớn rồi, xa nhà, trung thu dường như chỉ còn là ký ức, là ngày hội của những điều xưa cũ. Nhưng luân thường cuộc đời vốn là thế, nhớ hôm qua nhưng đừng quên vui với ngày hôm nay.

Chớm Đông

Những cơn gió heo may lành lạnh pha chút hanh hao báo hiệu Đông về và chỉ ai tinh ý lắm, nhạy cảm lắm mới biết được Thu đã đi qua.



Trong tiềm thức tuổi thơ tôi những ngày lập Đông là khi khoảng trời trong xanh bỗng nhuốm một màu mây xám bạc, cơn gió heo may hun hút kéo theo mưa phùn lất phất nhưng cũng đủ làm ai đó phải so vai vì lạnh và cả cái phố huyện nghèo cũng run run trong cơn gió đầu mùa...

Tiếng là chợ huyện nhưng cũng chỉ lèo tèo vài hàng quán tranh tre nứa lá. Sau khi bán xong mấy buồng chuối hoặc gánh khoai lang mẹ lại dúi cho mấy đồng tiền lẻ vào quán bánh ướt bà Thí (chả trách trẻ con đứa nào cũng đòi theo mẹ đi chợ) vị bánh ướt mới tráng nóng hổi bùi bùi quyện với dư vị cay nồng của nước chấm vừa ăn vừa hít hà trong tiết trời Đông sao ngon lạ, cuối buổi lại lục tục theo mẹ cuốc bộ bảy, tám cây số ra về, đến nhà đôi chân mỏi nhừ vậy mà lần sau vẫn vấn áo mẹ đòi theo cho bằng được...

Đầu Đông cũng là buổi giáp hạt, vụ mùa chưa đến vì vậy vật phẩm bán được chỉ lo tập trung đong gạo, cái loại gạo tồn kho lâu ngày bốc mùi ẩm mốc nhưng có lúc còn không có mà đong, cô mậu dịch viên của cửa hàng lương thực như biết sắp đến ngày lụi tàn của thời bao cấp nên suốt ngày cau cau có có...

Gió mùa hun hút thổi, biển động nên phiên chợ nghèo cũng tiêu điều với vài mớ rau vụ Đông, thau mắm thính lâu ngày.

Bà ngoại lại hỉ hả với cái hũ mắm cà đắc dụng trong những này Đông tháng giá: Mùa hè khi dứa vào chính vụ, giá rẻ, bà mua về gọt vỏ cắt lát phơi khô cùng dưa gang muối. Cà dại tụi tôi chăn bò hái về cả thúng, những quả cà tròn mẩy như viên bi được bà ngâm muối rồi kỳ công phơi lại hai nắng đến khi nheo lại thì cho tất cả vào cái hũ sành mỗi lớp dưa cà rải lên một lớp muối sau mới dùng lá chuối và cật tre gài kỹ không cho lộng gió, bà móm mém cười “làm cho có để mưa gió mà ăn”. Lũ nhóc chúng tôi lấm lem háu đói vừa ăn vừa hít hà vì vị cay. Bát cơm gạo xấu, vị cà giòn tan cùng vị mặn găn gắt của dưa gang và dứa khô ngấm muối lâu ngày nhưng ngon đến lạ dù ngày nay cơ chế thị trường gì mà chả có, mắm cà được cho vào lọ, niêm phong kỹ càng nhãn mác bắt mắt nhưng nhìn cái màu đỏ ệch của loại màu thực phẩm bỗng thấy gai gai chẳng muốn ăn...

Phố huyện giờ đã đổi khác, những căn nhà mặt tiền mọc lên san sát thôi thì đủ kiểu dáng kiến trúc Tây - Tàu, khu chợ nghèo giờ gần như một thương phố thời mở cửa với chi chít cửa hàng điện tử nhạc nhẽo xập xình. Văn minh thật đấy, giàu có thật đấy nhưng cũng khiến những ai đi xa có chút tâm hồn hoài cổ mỗi lần trở về không khỏi cảm thấy cô đơn, xa lạ...

Có lẽ tất cả chỉ còn lại trong ký ức về một thời quá vãng chưa xa. Mưa phùn mỗi lúc một nặng hạt, gió bắt đầu rít ù ù, hình như năm nay mùa Đông đến sớm...

Thầy ơi, chúng con xin lỗi!

Nhìn tấm lưng gầy của thầy như còng thêm, mái tóc đã gần như bạc xóa vẫn nắn nót từng dòng chữ trên bảng tin chuẩn bị cho lễ kỉ niệm 40 năm ngày thành lập trường lại thấy có lỗi và thương thầy nhiều hơn.


Thầy Lễ cặm cụi trang trí bảng tin mừng 40 năm thành lập Trường THPT Thái Lão (Hưng Nguyên, Nghệ An) - nơi thầy đã từng công tác cho đến khi nghỉ hưu.
Thầy Lễ cặm cụi trang trí bảng tin mừng 40 năm thành lập Trường THPT Thái Lão (Hưng Nguyên, Nghệ An) - nơi thầy đã từng công tác cho đến khi nghỉ hưu.
 
Thầy hiền, hiền đến nỗi lũ học trò định danh “hiền như thầy Lễ, dễ như thầy Cầm”. Thầy hiền, lại là giáo viên môn Kỹ thuật nông nghiệp, cái môn học mà trong tiềm thức của lũ học trò chúng tôi là môn phụ nên chẳng đứa nào chịu học.

Chúng tôi phần lớn là con nông dân, từ nhỏ đã quen với cầm cuốc, cầm liềm. Làm đất như thế nào, cấy lúa ra sao… hầu như đứa nào cũng đã thành thạo. Bởi vậy, những bài giảng về kỹ thuật trồng trọt, làm đất, chăn nuôi… chúng tôi gần như đứa nào cũng thuộc làu rồi. Còn mấy đứa ở thị trấn, nhà có đất, có ruộng đâu mà phải học cái này. Bởi vậy, cứ giờ kỹ thuật nông nghiệp là bọn tôi tự cho phép mình nghỉ học.

Thầy Lễ đã già lắm rồi. Đâu như cái khóa của chúng tôi 12 năm về trước là khóa cuối cùng thầy đứng lớp. Thầy hiền, gầy gò, tóc muối tiêu cứ khản cổ dạy trên bục. Dưới lớp lũ học trò chúng tôi đứa gục mặt xuống bàn ngủ, đứa nói chuyện riêng, đứa học bài môn khác, cứ rào rào như ong vỡ tổ.

Lắm lúc thầy bực mình với lũ học trò bất trị, quát lên. Lớp im lặng được một lát, thầy lại quay về với bài giảng với sự nhẫn nại hiếm có của mình. Sự trật tự chỉ kéo dài được dăm phút rồi lớp lại như ong vỡ tổ. Đã có lần sự giận dữ lên đến đỉnh điểm, thầy phê ngay 8 điểm vào sổ đầu bài. Không cần một tiếng to của thầy, lớp lặng yên như tờ, lấm lét nhìn nhau. Cũng chẳng phải vì hối hận, ăn năn và cảm thấy có lỗi với thầy mà chỉ lo tuần này lớp mình đứng bét trường. Trống hết tiết, thầy xách cặp ra cửa. Mấy đứa chạy theo năn nỉ thầy sửa lại điểm đầu bài. Thầy vẫn bước đi, chẳng đứa nào kịp thấy vai thầy chùng hơn thường lệ.

Sau mấy bận bị lũ học trò bám dai như đỉa, năn nỉ đến điếc cả tai, thầy cầm bút chữa con số 8 thành 9,5. Cả lớp thở phào nhẹ nhõm và cứ mặc nhiên xem đó là thành tích của mình.

Chẳng đứa nào chịu học nhưng môn này không đứa nào thiếu điểm, ngược lại điểm cao nữa là khác. Thầy là vậy, chẳng bao giờ giận học trò, cũng chẳng nỡ hạ bút mà cho chúng điểm kém. Thầy hiểu, trong suy nghĩ của lũ học trò lúc ấy, chẳng đứa nào mặn mà với ruộng đồng, đất cát, cây, lúa… Đứa nào cũng mơ đến một ngày thoát khỏi đồng ruộng, thành bác sỹ, nhà giáo, kỹ sư… Với chúng, môn học của thầy luôn luôn là môn phụ.

Hết lớp 10, không còn môn Kỹ thuật nông nghiệp, thầy cũng nghỉ hưu. Lũ chúng tôi dường như chẳng ai nhớ đến thầy, bởi thầy là giáo viên môn phụ!

Đợt này, học sinh cũ chộn rộn cho buổi gặp mặt kỉ niệm 40 năm thành lập trường. Kế hoạch thăm lại trường cũ, thăm thầy cô giáo chủ nhiệm được vạch ra đến từng chi tiết. Dường như chẳng ai nhớ đến câu cửa miệng “hiền như thầy Lễ…”

Ai đó đưa lên facebook tấm hình một người thầy đứng quay lưng trước bản tin của trường, tay nắn nót tô đậm con số 40. Lũ học trò cũ nhao nhao “Ai đó?. Thầy Lễ phải không? Thầy già quá! Ngày xưa, thầy hiền nhất trường… Chỉ bấy nhiêu đấy thôi khiến khóe mắt con thấy cay xè vì cảm giác có lỗi với thầy.

Hơn 10 năm, lũ học trò ngày xưa đã lớn, đã là cha, là mẹ. Rất nhiều trong số đó đã tiếp bước con đường thầy đã đi. Có đứa dạy Văn, dạy Toán, có đứa dạy giáo dục công dân… Lũ học trò bây giờ vẫn ngầm phân định môn chính và môn phụ, đương nhiên, thầy cô dạy môn chính vẫn được chúng nhớ nhiều hơn…

Chúng con giờ đã lớn, những va vấp trong cuộc sống cũng đủ để lũ học trò ngỗ nghịch ngày xưa hiểu rằng chẳng có môn nào chính, môn nào phụ cả. Mỗi môn học sẽ trang bị cho chúng con những kiến thức khác nhau mà cuộc đời thì muôn hình muôn vẻ lắm. Chiều qua, con dẫn con trai mình ra vạt rau trồng trong những ô xốp (phố lấy đâu ra đất mà cuốc, đánh luống trồng rau phải không thầy?), mỏi cả miệng khi trả lời những câu hỏi ngô nghê của con.

Tại sao lại dùng dao để xới đất? Tại sao mẹ lại bỏ phân vào đất? Tại sao phải tưới nước cho rau? Những câu trả lời này ngày trước thầy đã dạy con rồi đúng không thầy? Ngày trước, chúng con cứ nghĩ rằng những điều đó là không cần thiết và không cần phải học.

Những ngày lễ lớn, nhà trường vẫn mời thầy lên, nhờ thầy trang trí những bảng tin, những tờ báo tường… Thầy vẫn hiền như thế, chỉ có điều tuổi tác đã phủ một màu trắng xóa lên mái tóc. Nhìn tấm lưng gầy như còng xuống, đôi bờ vai như gầy thêm, nhẫn nại đưa từng đường phấn chúng con lại thấy thương thầy nhiều hơn.

Thầy ơi, chúng con sẽ về, để được nói một lời xin lỗi với thầy, để được thầy tha thứ cho những ngỗ nghịch ngày xưa, để được nhìn đôi mắt hiền từ và nắm lấy bàn tay gầy guộc. Chúng con sẽ ngồi thật ngoan trong lớp học ngày xưa, để được nghe thầy kể về những hạt lúa, củ khoai, những hòn đất…

Chúng con sẽ về, thầy nhé!

Mưa kỷ niệm

Vào độ tháng bảy, tháng tám trời bắt đầu đổ mưa. Những cơn mưa dai dẳng kéo dài liên miên từ ngày này sang ngày khác. Dường như trời còn bao nhiêu giọt nước thì vắt cho cạn kiệt đến hết mới thôi. Nó khiến tôi không thể nào quên nổi kỷ niệm ngày nào tôi bên bà...

Đó là những cơn mưa dài, dài dường như vô tận. Nó cất giấu mặt trời cho riêng nó, cho đám mây nào to nhất, dầy nhất và đen kịt như tro bếp ấy. Hạt mưa giăng đầy trời như lưới bủa. Bà bảo: "Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh đấy!". Bà tôi thở dài mắt nhìn hư vô. Tôi thơ ngây xòe đôi bàn tay ra hứng mưa, nghe mưa kêu tanh tách mà chẳng hiểu sự tình.

Mưa... mưa nhiều quá! Mưa phủ trắng cả lối đi. Mưa về tạt ngang ngõ bà tôi. Mưa trèo lên bậc thềm mẹ con nhà lợn. Nó mới đẻ, sàn nhà lại ướt sũng nên khó ở cứ kêu toáng lên cả ngày. Bà tôi vật vã với cơn mưa để chăm sóc nó. Nước lớn quá! Chỗ ấy không thể ở được nữa rồi. Bà đội mưa đi gọi người đưa mẹ con nó lên nhà trên. Khó khăn lắm ba bốn người mới chuyển được mẹ con nó đi.

Bà tôi tất bật suốt những ngày ấy, vậy mà bà còn phải để mắt tới tôi nữa. "Bống! Đừng vọc nước nữa kẻo bị cảm đấy!". Tôi không nghe lời, còn giãy nảy lên khi bị lôi vào nhà. Thế là không được ra chơi với mưa nữa. Tôi bắt chước chú lợn con bên kia nhà kêu lên om sòm: "Éc éc…", càng làm cho bà rối bời lên thôi. Cho mẹ con nó ăn, bà còn phải lo cho "con mèo ú" là tôi ăn nữa. Mấy ngày liền chẳng chợ búa được gì, bữa cơm ngày mưa chỉ có vừng độn cơm ăn tạm. Thế mà tôi đã ăn đến mấy bát liền. Nhìn tôi cầm đôi đũa vụng về ăn lấy ăn để, bà tôi cười mắng yêu: "Bố cô ăn từ từ thôi chứ!". Còn bà thì chỉ ăn qua loa rồi lại quần quật lo lợn gà, bếp núc.

Ngoài vườn các loài rau thi nhau tắm mưa mà sinh sôi tươi tốt. Dàn mồng tơi chìa ra những chiếc lá to mọng nước, những cái ngọn loăn xoăn cứ huơ huơ chẳng chịu bấu vào dàn. Rau dền cơm, rau dền đỏ… như muốn gọi mời bàn tay nào thân thuộc đến hái đi những chiếc lá to nhất, non tươi nhất. Những cây ổi cành lá xùm xòa dưới mưa. Thỉnh thoảng một vài con chim vụt ra từ đấy, bỏ ngỏ những quả ổi chín vàng đang ăn dở.

Nước đã bắt đầu tràn vào vườn cây rồi leo vào sân, đủng đỉnh với lên từng cái bậc thềm nhà. Bà tôi bảo: "Lũ về thật rồi!". Tôi lơ ngơ không hiểu cái gì sẽ về và nó như thế nào. Thấy bà đăm chiêu lo lắng, tôi cũng bần thần ngồi im chẳng dám quậy phá gì thêm nữa. Cũng có lúc trời ngớt mưa thật. Nhưng xem chừng những đám mây to đen kịt, hổn hển bò ngoài kia như vẫn còn vướng víu điều gì nơi mảnh đất này.

Mấy hôm nay chôn chân ở nhà nên tù túng quá, tôi đòi bà dắt ra ngõ. Bà đi trước, cháu theo sau. Mà chỉ có thể ra tới ngõ được thôi, vì ngoài kia đã là... biển. Biển lúa hôm nào nay thành biển nước. "Nước ngập hết cả cánh đồng rồi!", mắt bà tôi ngân ngấn nước. Bà tôi run run, tôi cảm nhận được điều ấy ở bàn tay tôi đang được giữ chặt trong lòng bàn tay của bà.

Trên mặt nước trắng xóa, lác đác những chiếc lá lúa như cánh tay chới với của những người đang chết đuối. Thỉnh thoảng một vài con rắn rướn cái cổ dài ngoằng lên không. Những chiếc bè lớn từ từ ngược lên từ xóm dưới chở những gia đình đi tránh lũ. Bà tôi lặng người. Bà nhích tôi lại gần như để kiếm tìm một chút gì ấm lòng hơn!